Quyền tác giả đối với tác phẩm có sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo: Khi nào được bảo hộ và ai là tác giả?

Không phải sử dụng AI là mất quyền tác giả

Theo khoản 1 Điều 5a Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, được bổ sung bởi Điều 4 Nghị định số 134/2026/NĐ-CP, quyền tác giả đối với tác phẩm có sử dụng hệ thống AI được phát sinh khi con người có đóng góp đáng kể, mang tính quyết định vào việc sáng tạo và đáp ứng các điều kiện bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ. Nghị định số 134/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 06/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 09/4/2026.

Quy định này cho thấy AI được nhìn nhận như một công cụ trong quá trình sáng tạo. Việc sử dụng AI để kiểm tra chính tả, gợi ý bố cục, xử lý âm thanh, tạo bản nháp hoặc đề xuất phương án thiết kế không đương nhiên làm mất quyền tác giả. Vấn đề cần xem xét là con người có trực tiếp quyết định nội dung, hình thức thể hiện và kết quả cuối cùng hay chỉ tiếp nhận thụ động sản phẩm mà hệ thống tạo ra.

Chẳng hạn, một người chỉ nhập câu lệnh “hãy tạo hình ảnh một gia đình đang dùng bữa” rồi sử dụng nguyên kết quả đầu tiên sẽ khó chứng minh mình đã thực hiện hoạt động sáng tạo mang tính quyết định. Hầu hết lựa chọn về nhân vật, bố cục, ánh sáng, màu sắc và góc nhìn đều được thuật toán tự động xác lập. Tuy nhiên, nếu người thiết kế tự xây dựng bản phác thảo, chuẩn bị dữ liệu đầu vào hợp pháp, điều chỉnh câu lệnh qua nhiều vòng, lựa chọn từng thành phần, chỉnh sửa hình ảnh và quyết định bố cục cuối cùng thì sản phẩm có cơ sở rõ ràng hơn để được xem là tác phẩm do con người sáng tạo với sự trợ giúp của AI.

Khi nào sự đóng góp của con người được coi là đủ?

Theo điểm a khoản 1 Điều 5a Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, đóng góp của con người có thể thể hiện qua việc cung cấp dữ liệu đầu vào mang tính nguyên gốc; xây dựng tài liệu thiết kế; thiết lập câu lệnh để điều khiển hệ thống; đánh giá, lựa chọn, chỉnh sửa hoặc diễn giải kết quả; sắp xếp nội dung; đưa ra các quyết định thể hiện ý đồ nghệ thuật, thẩm mỹ hoặc kỹ năng chuyên môn; đồng thời quyết định kết quả cuối cùng. Kết quả phải phản ánh đúng ý tưởng của con người, thay vì chỉ là sự sắp đặt ngẫu nhiên hoặc tự động của thuật toán. Vì vậy, việc đánh giá tư cách tác giả không được thực hiện bằng cách thống kê số lượng câu lệnh. Một người có thể nhập hàng trăm câu lệnh chung chung nhưng vẫn không kiểm soát được cách thức AI thể hiện tác phẩm. Ngược lại, một quy trình ít câu lệnh hơn nhưng dựa trên kịch bản, bản vẽ, tài liệu thiết kế và các quyết định biên tập cụ thể có thể thể hiện rõ dấu ấn sáng tạo của con người.

Điểm quan trọng cần phải chứng minh được là phải xác định ai đã đưa ra những lựa chọn sáng tạo làm nên hình thức cuối cùng của tác phẩm. Người chỉ nêu ý tưởng chung, đặt hàng hoặc lựa chọn một kết quả mà không có sự can thiệp đáng kể chưa chắc được công nhận là tác giả. 

Theo khoản 3 Điều 5a Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, người thực hiện hoạt động sáng tạo đáp ứng các điều kiện nêu trên được xác định là tác giả. Bên cạnh đó theo Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, tác giả hay đồng tác giả phải là người, vì vậy, AI  được sử dụng làm công cụ hỗ trợ trong quá trình tạo ra sản phẩm không được đứng tên tác giả hoặc đồng tác giả.

Sản phẩm hoàn toàn do AI tạo ra không được bảo hộ

Pháp luật cũng phân biệt rõ tác phẩm có sự trợ giúp của AI với sản phẩm hoàn toàn do AI tạo ra. Theo khoản 9 Điều 5a Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, sản phẩm hoàn toàn do hệ thống AI tạo ra hoặc không đáp ứng điều kiện về sự đóng góp đáng kể, mang tính quyết định của con người thì không làm phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan.

Cũng cần đặc biệt lưu ý rằng quyền sử dụng nội dung theo điều khoản của một nền tảng AI không đồng nghĩa với quyền tác giả theo pháp luật. Nền tảng có thể cho phép người dùng khai thác thương mại kết quả, nhưng điều đó chưa chắc giúp người dùng có quyền độc quyền ngăn cấm người khác sử dụng một sản phẩm tương tự.

Cũng cần lưu ý rằng, việc đăng ký quyền tác giả cũng không thể biến một sản phẩm không đủ điều kiện thành tác phẩm được bảo hộ. Quyền tác giả phát sinh từ hoạt động sáng tạo thực tế; giấy chứng nhận chủ yếu là chứng cứ ghi nhận thông tin đã đăng ký.

Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có thể là hai chủ thể khác nhau

Trên thực tế, người trực tiếp sáng tạo và người sở hữu quyền tác giả không phải lúc nào cũng là một. Theo khoản 5 Điều 5a Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm có sử dụng AI được xác định theo các quy định chung tại Chương III Luật Sở hữu trí tuệ. Vì vậy, nhân viên trực tiếp xây dựng nội dung, câu lệnh và chỉnh sửa sản phẩm có thể được xác định là tác giả, trong khi doanh nghiệp có thể là chủ sở hữu quyền tài sản nếu tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ được giao và các bên không có thỏa thuận khác.

Đối với freelancer hoặc đơn vị cung cấp dịch vụ, hợp đồng nên quy định rõ việc có được sử dụng AI hay không; công cụ nào được phép sử dụng; ai sở hữu kết quả; phạm vi chuyển giao quyền tài sản; trách nhiệm đối với dữ liệu đầu vào và nghĩa vụ xử lý khi có khiếu nại của bên thứ ba. Nếu hợp đồng chỉ ghi chung rằng “bàn giao toàn bộ sản phẩm”, tranh chấp vẫn có thể phát sinh về tư cách tác giả, phạm vi quyền được chuyển giao và tính hợp pháp của nội dung.

Có quyền tác giả không đồng nghĩa sản phẩm không xâm phạm quyền của người khác

Ngay cả khi con người có đóng góp sáng tạo đủ để tác phẩm được bảo hộ, sản phẩm vẫn có thể xâm phạm quyền tác giả, quyền hình ảnh hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.

Theo điểm b và điểm c khoản 1 Điều 5a Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, người sử dụng AI phải chịu trách nhiệm về nội dung và tính hợp pháp của sản phẩm do mình tạo ra; đồng thời không được gây phương hại đến quyền tác giả, quyền liên quan đối với những đối tượng được sử dụng làm dữ liệu đầu vào.

Vì vậy, doanh nghiệp không nên đưa tùy tiện hình ảnh, bài viết, bản nhạc, bản vẽ hoặc tài liệu mật của người khác vào hệ thống AI. Đầu ra cũng cần được kiểm tra trước khi công bố, đặc biệt khi có dấu hiệu giống nhân vật, hình ảnh, lời bài hát, đoạn văn hoặc thiết kế đã tồn tại. Việc nói rằng “nội dung do AI tạo ra” không phải là căn cứ miễn trách nhiệm. Người lựa chọn, công bố và khai thác nội dung vẫn có thể phải chịu trách nhiệm nếu việc sử dụng đó xâm phạm quyền của bên thứ ba.

Chứng cứ về quá trình sáng tạo là yếu tố quyết định

Trong tranh chấp, chỉ giữ file thành phẩm thường chưa đủ để chứng minh mức độ đóng góp của con người. Theo khoản 7 và khoản 8 Điều 5a Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, người yêu cầu bảo vệ quyền phải chứng minh quá trình sáng tạo và kê khai trung thực việc sử dụng AI. Chứng cứ có thể bao gồm dữ liệu đầu vào, bản thảo, các phiên bản trung gian, lịch sử câu lệnh, dữ liệu tương tác, tham số kỹ thuật, file chỉnh sửa và tài liệu mô tả quá trình sáng tạo.

Doanh nghiệp nên lập hồ sơ sáng tạo cho từng dự án, ghi nhận người tham gia, công cụ AI được sử dụng, nguồn dữ liệu đầu vào, các giai đoạn chỉnh sửa và người quyết định kết quả cuối cùng. Đây không chỉ là căn cứ đăng ký quyền tác giả mà còn giúp xử lý tranh chấp với nhân viên, nhà thầu, khách hàng hoặc bên sao chép tác phẩm.

Kết luận

Pháp luật hiện hành không loại trừ quyền tác giả chỉ vì tác phẩm có sử dụng trí tuệ nhân tạo. Ranh giới pháp lý nằm ở mức độ đóng góp đáng kể, mang tính quyết định và khả năng kiểm soát sáng tạo của con người. Người sử dụng AI như một công cụ để thể hiện ý tưởng, lựa chọn, chỉnh sửa và quyết định kết quả cuối cùng có thể được xác định là tác giả. Ngược lại, người chỉ nhập yêu cầu chung rồi sử dụng nguyên sản phẩm do AI tự động tạo ra sẽ khó chứng minh quyền tác giả, thậm chí sản phẩm có thể không được bảo hộ.

Do đó, bên cạnh việc lựa chọn công cụ AI phù hợp, doanh nghiệp cần kiểm soát nguồn dữ liệu, quy định rõ quyền sở hữu trong hợp đồng và lưu giữ đầy đủ chứng cứ về quá trình sáng tạo. Trong lĩnh vực này, khả năng bảo vệ quyền không chỉ phụ thuộc vào sản phẩm cuối cùng mà còn phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có chứng minh được con người đã thực sự sáng tạo như thế nào.

Nếu Bạn có nhu cầu về đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan hay có bất cứ thắc mắc gì đối với xác lập quyền sở hữu trí tuệ, vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn miễn phí và cung cấp Dịch vụ tốt nhất qua thông tin sau:

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ TƯ VẤN DỊCH VỤ IP PRO

Địa chỉ:  Tòa A Hoàng Huy Goldenland, Khương Đình, Hà Nội

Hotline: 0987858890

Website: ippro.vn

Email: ipprohn@gmail.com

 

nhận tư vấn trực tiếp

Để lại thông tin theo form dưới đây và chúng tôi sẽ gọi lại tư vấn
chi tiết cho bạn