NGHĨA VỤ MINH BẠCH AI TẠI VIỆT NAM VÀ EU
Sự phát triển nhanh chóng của các hệ thống AI đang khiến việc phân biệt giữa hoạt động tương tác với AI, nội dung do AI tạo ra và nội dung do con người tạo ra ngày càng trở nên khó khăn. Điều này đã và đang bị lợi dụng, làm phát sinh những rủi ro về thông tin sai lệch, gian lận, mạo danh và lừa dối người tiêu dùng. Nhưng đồng thời, thực trạng trên cũng thúc đẩy các quy định về minh bạch trong việc sử dụng AI được xây dựng nhanh chóng, kịp thời và chặt chẽ hơn.
Từ Đạo luật Trí tuệ Nhân tạo Liên minh Châu Âu (EU AI Act), đạo luật được coi là chuẩn mực toàn cầu đầu tiên trên thế giới về Ai cho đến Luật Trí tuệ Nhân tạo 2025 và Nghị định 142/2026/NĐ-CP tại Việt Nam, “Minh bạch AI” (AI Transparency) đã chính thức chuyển từ một khuyến nghị đạo đức thành nghĩa vụ pháp lý bắt buộc.
.png)
Đạo luật Trí tuệ Nhân tạo Liên minh Châu Âu
Từ ngày 2/8/2026, Điều 50 quy định về nghĩa vụ minh bạch của các nhà cung cấp và phát triển AI trong Đạo luật AI của Liên minh châu Âu EU chính thức có hiệu lực. Điều 50 quy định các nghĩa vụ minh bạch mà một số nhà cung cấp và bên triển khai hệ thống AI phải tuân thủ, bao gồm các hệ thống AI tạo sinh (generative AI), AI tương tác (interactive AI) và nội dung giả mạo chuyên sâu (deepfake).
Trước khi Điều 50 chính thức có hiệu lực, Ủy ban châu Âu (EC) đã thông qua Bộ quy tắc thực hành về minh bạch đối với nội dung do AI tạo ra (Code of Practice on Transparency of AI-generated Content), đồng thời công bố hướng dẫn nhằm hỗ trợ nhà cung cấp và bên triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo tuân thủ các nghĩa vụ minh bạch.
Theo đó, Điều 50 của Đạo luật AI quy định một số nghĩa vụ quan trọng mà nhà cung cấp và bên triển khai hệ thống AI bắt buộc phải thực hiện. Theo đó, các nhà cung cấp hệ thống AI phải: Thiết kế hệ thống AI theo cách bảo đảm cá nhân được thông báo rõ ràng mỗi khi họ tương tác trực tiếp với hệ thống AI; và tích hợp dấu hiệu ở định dạng máy có thể đọc nhằm cho phép phát hiện nội dung do AI tạo ra hoặc thao túng.
Trong khi đó, bên triển khai hệ thống AI phải thông báo cho cá nhân khi họ tiếp xúc với: Công cụ nhận diện cảm xúc và phân loại sinh trắc học; nội dung giả mạo chuyên sâu (deepfake); và văn bản được công bố về các vấn đề thuộc lợi ích công cộng mà không có sự rà soát của con người hoặc cơ chế kiểm soát biên tập.
Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 và Nghị định 142/2026/NĐ-CP
Đối với pháp luật Việt Nam cũng quy định nghĩa vụ minh bạch bằng đánh dấu kỹ thuật để máy nhận diện và thông báo hoặc gắn nhãn hiển thị để con người nhận biết. Theo khoản 1 Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, nhà cung cấp phải bảo đảm hệ thống AI tương tác trực tiếp với con người được thiết kế và vận hành để người sử dụng nhận biết rằng mình đang tương tác với AI, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đối với nội dung do AI tạo ra, khoản 2 Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 yêu cầu bên triển khai đánh dấu dưới định dạng máy đọc đối với nội dung âm thanh, hình ảnh và video. Khác với Đạo luật AI của EU, pháp luật Việt Nam không yêu cầu bắt buộc nhà cung cấp phải thực hiện đánh dấu kỹ thuật ở định dạng máy đọc đối với nội dung đầu ra là văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc đánh dấu nội dung âm thanh, hình ảnh và video có thể được thực hiện bằng cách tích hợp dấu hiệu vào cấu trúc tệp, dữ liệu nội dung hoặc siêu dữ liệu; sử dụng chữ ký số, chữ ký điện tử; hoặc áp dụng giải pháp kỹ thuật tương đương.
Đối với nghĩa vụ hiển thị cho người tiếp nhận, khoản 3 Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 quy định bên triển khai phải thông báo rõ ràng khi cung cấp ra công cộng văn bản, âm thanh, hình ảnh hoặc video do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa, nếu nội dung có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật, sự vật hoặc nguồn gốc nội dung. Riêng đối với deepfake, căn cứ khoản 4 Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 và khoản 2 Điều 18 Nghị định số 142/2026/NĐ-CP, âm thanh, hình ảnh hoặc video mô phỏng ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế phải được gắn nhãn dễ nhận biết để phân biệt với nội dung thật.
Điểm giống nhau và khác biệt
Điểm tương đồng quan trọng nhất là EU và Việt Nam đều không xem một dòng chữ “được tạo bằng AI” là biện pháp duy nhất để bảo đảm minh bạch. Nghĩa vụ được thiết kế theo hai tầng: nhà cung cấp phải tạo ra dấu hiệu kỹ thuật để hệ thống máy có thể phát hiện, trong khi bên trực tiếp đưa nội dung đến công chúng phải cung cấp nhãn hoặc thông báo mà con người có thể nhận biết.
Tuy nhiên, phạm vi nghĩa vụ có sự khác biệt. EU yêu cầu đánh dấu kỹ thuật đối với cả văn bản, âm thanh, hình ảnh và video; trong khi Việt Nam hiện chỉ bắt buộc đánh dấu máy đọc đối với âm thanh, hình ảnh và video. Ngược lại, nghĩa vụ thông báo đối với văn bản tại Việt Nam được xác định dựa trên nguy cơ gây nhầm lẫn về tính xác thực hoặc nguồn gốc nội dung, không giới hạn trong các vấn đề thuộc lợi ích công cộng như EU.
Đối với doanh nghiệp hoạt động tại cả hai thị trường, giải pháp an toàn là áp dụng tiêu chuẩn tuân thủ cao hơn: đánh dấu kỹ thuật cho toàn bộ nội dung AI khi khả thi, đồng thời gắn nhãn hiển thị đối với mọi nội dung có khả năng khiến người tiếp nhận hiểu nhầm là nội dung thật.
Ý nghĩa đối với sở hữu trí tuệ và hoạt động doanh nghiệp
Việc gắn nhãn AI không trực tiếp xác định một sản phẩm có được bảo hộ quyền tác giả hay không và cũng không thay thế việc xin phép sử dụng tác phẩm, hình ảnh, giọng nói hoặc nhãn hiệu của người khác. Tuy nhiên, các dấu hiệu kỹ thuật và thông tin truy xuất có thể hỗ trợ chứng minh nguồn gốc, thời điểm tạo lập và quá trình chỉnh sửa nội dung trong tranh chấp sở hữu trí tuệ.
Doanh nghiệp sử dụng AI trong hoạt động quảng cáo, truyền thông và sáng tạo nội dung cần xác định rõ mình đang giữ vai trò nhà cung cấp hay bên triển khai; phân công trách nhiệm giữa doanh nghiệp, agency và nhà cung cấp công cụ AI; duy trì siêu dữ liệu trong quá trình xuất và đăng tải tệp; đồng thời lưu trữ các câu lệnh (prompt), phiên bản nội dung, nhật ký chỉnh sửa và căn cứ sử dụng các tài sản sở hữu trí tuệ liên quan.
Minh bạch AI vì vậy không chỉ là yêu cầu về hình thức. Đây đang trở thành một bộ phận của hệ thống quản trị nội dung số, giúp doanh nghiệp hạn chế nguy cơ gây nhầm lẫn, bảo vệ niềm tin của người tiêu dùng và chủ động xử lý các tranh chấp sở hữu trí tuệ trong môi trường xuyên biên giới.
CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ TƯ VẤN DỊCH VỤ IP PRO
Địa chỉ: Tòa A Hoàng Huy Goldenland, Khương Đình, Hà Nội
Hotline: 0987858890
Website: ippro.vn
Email: ipprohn@gmail.com