Từ ngày 01/4/2026, thủ tục đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam có nhiều thay đổi quan trọng theo Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Các quy định mới hướng đến việc rút ngắn thời gian xử lý, tăng tính minh bạch và tạo cơ chế ưu tiên cho một số đơn đăng ký đặc thù.
Một trong những thay đổi được doanh nghiệp quan tâm nhất là thời hạn xử lý đơn đăng ký nhãn hiệu được rút ngắn đáng kể.
Theo khoản 3 Điều 110 Luật Sở hữu trí tuệ, được sửa đổi tại khoản 35 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15, đơn đăng ký nhãn hiệu hợp lệ phải được công bố trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận hợp lệ, thay vì 02 tháng như trước đây.
Tiếp đó, theo điểm b khoản 2 Điều 119 Luật Sở hữu trí tuệ, được sửa đổi tại khoản 44 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15, thời hạn thẩm định nội dung đơn nhãn hiệu được rút từ 09 tháng xuống còn 05 tháng kể từ ngày công bố đơn. Thời hạn để người thứ ba phản đối việc cấp văn bằng cũng được rút xuống còn 03 tháng kể từ ngày đơn được công bố, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 112a Luật Sở hữu trí tuệ, được sửa đổi tại khoản 37 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15.
Dù vậy, cần hiểu rằng 05 tháng chỉ là thời hạn của giai đoạn thẩm định nội dung, không phải tổng thời gian từ khi nộp đơn đến khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Hồ sơ vẫn phải trải qua các bước tiếp nhận, thẩm định hình thức, công bố, thẩm định nội dung và nộp phí cấp văn bằng.
.png)
Thời gian thực tế còn có thể kéo dài nếu đơn bị yêu cầu sửa đổi, giải trình, có người thứ ba phản đối hoặc có nhãn hiệu đối chứng đang chờ xử lý. Theo khoản 2 Điều 5 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN, thời gian dành cho người nộp đơn trả lời thông báo, sửa đổi hoặc bổ sung hồ sơ không được tính vào thời hạn xử lý đơn.
Ngoài ra luật mới lần đầu bổ sung cơ chế thẩm định nội dung nhanh đối với đơn đăng ký nhãn hiệu. Theo khoản 2a Điều 119 Luật Sở hữu trí tuệ, được bổ sung tại khoản 44 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15, đơn đáp ứng điều kiện có thể được thẩm định nội dung trong thời hạn 03 tháng. Tuy nhiên, đây không phải là thủ tục mà mọi doanh nghiệp đều có thể lựa chọn bằng cách trả thêm phí. Căn cứ khoản 2 Điều 14a Nghị định số 65/2023/NĐ-CP, được bổ sung bởi Điều 17 Nghị định 100/2026/NĐ-CP, đơn phải thuộc một trong các trường hợp đặc thù, chẳng hạn nhãn hiệu dùng cho hàng hóa liên quan đến công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, phục vụ tình huống khẩn cấp hoặc trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là tài liệu bắt buộc để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, kinh doanh.
Ngoài ra, đơn phải được nộp trực tiếp tại Việt Nam, không phải đơn quốc tế theo Hệ thống Madrid; nhãn hiệu không thuộc loại nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu ba chiều hoặc nhãn hiệu âm thanh. Yêu cầu thẩm định nhanh phải được nộp đồng thời với đơn đăng ký, kèm tài liệu chứng minh và phí tương ứng. Nếu sau đó phát sinh phản đối, khiếu nại, tranh chấp, có đơn nộp trước chưa được xử lý hoặc người nộp đơn chủ động sửa đổi, tách đơn, hồ sơ có thể được chuyển trở lại quy trình thẩm định thông thường. Vì vậy, trước khi lựa chọn cơ chế này, doanh nghiệp cần tra cứu kỹ và chuẩn hóa hồ sơ ngay từ đầu.
Một điểm mới đáng chú ý là việc các nhãn hiệu chứa yếu tố “Việt”, “Việt Nam” hoặc “Vietnam” được kiểm soát chặt hơn
Quy định mới cũng tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp muốn xây dựng thương hiệu gắn với hình ảnh quốc gia. Theo điểm đ1 khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ, được bổ sung tại khoản 21 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý quốc gia Việt Nam của hàng hóa, dịch vụ về nguyên tắc bị coi là không có khả năng phân biệt. Quy định hướng dẫn xác định nhóm dấu hiệu này bao gồm các từ như “Việt”, “Việt Nam”, “Viet”, “Viet Nam” và “Vietnam”.
Điều này không có nghĩa mọi nhãn hiệu chứa chữ “Việt” đều tự động bị từ chối. Cơ quan thẩm định sẽ xem xét ý nghĩa của dấu hiệu, cách trình bày, vị trí của thành phần này và tổng thể nhãn hiệu. Pháp luật vẫn dành ngoại lệ cho dấu hiệu đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với tư cách nhãn hiệu trước ngày nộp đơn, hoặc dấu hiệu là thành phần của nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận có khả năng phân biệt.
Dù vậy, các tên gọi như “Vietnam Organic”, “Việt Nam Quality” hoặc “Viet Tech” cần được đánh giá thận trọng. Việc thêm hình ảnh hoặc một vài từ mô tả chưa chắc đã đủ tạo khả năng phân biệt hoặc giúp doanh nghiệp được độc quyền riêng đối với thành phần “Việt Nam”.
Trách nhiệm của người nộp đơn được nâng cao
Theo khoản 7 Điều 100 Luật Sở hữu trí tuệ, người nộp đơn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của thông tin kê khai. Việc khai sai chủ thể có quyền đăng ký, nguồn gốc quyền nộp đơn, tài liệu ưu tiên hoặc tài liệu chứng minh điều kiện thẩm định nhanh có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của quyết định cấp văn bằng; trong trường hợp nghiêm trọng, quyết định cấp có thể bị thu hồi.
Luật mới đồng thời bổ sung cơ chế tạm dừng thẩm định tại khoản 3a Điều 114 Luật Sở hữu trí tuệ, được bổ sung bởi khoản 39 Điều 1 Luật số 131/2025/QH15. Theo đó, người nộp đơn có thể đề nghị tạm dừng để yêu cầu chấm dứt hoặc hủy bỏ nhãn hiệu đang được sử dụng làm đối chứng; việc thẩm định cũng có thể được tạm dừng khi Tòa án đã thụ lý tranh chấp về quyền đăng ký hoặc về nhãn hiệu được đăng ký với dụng ý xấu. Cơ chế này giúp bảo vệ người nộp đơn trong các vụ việc phức tạp, nhưng cũng có thể khiến thời gian xử lý hồ sơ kéo dài.
Nếu Bạn có nhu cầu về đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan hay có bất cứ thắc mắc gì đối với xác lập quyền sở hữu trí tuệ, vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn miễn phí và cung cấp Dịch vụ tốt nhất qua thông tin sau:
CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ TƯ VẤN DỊCH VỤ IP PRO
Địa chỉ: Tòa A Hoàng Huy Goldenland, Khương Đình, Hà Nội
Hotline: 0987858890
Website: ippro.vn
Email: ipprohn@gmail.com